Thứ Năm, 10 tháng 7, 2014

VIỆT NAM CÓ ĐẦY ĐỦ CƠ SỞ PHÁP LÝ KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN ĐỐI VỚI NAM BỘ


Hôm 8/7, đám đông hơn 100 người Campuchia tụ tập trước Đại sứ quán Việt Nam tại Phnom Penh để nêu vấn đề chủ quyền lãnh thổ của một số tỉnh miền Nam Việt Nam. Thực chất đây là cuộc tụ tập quấy rối, cản trở hoạt động của cơ quan sứ quán. Nhiều ý kiến cho rằng, cuộc gây rối này có bàn tay của đảng Cứu nguy Dân tộc Campuchia (CNRP) do Sam Rainsy, người từng nhiều lần tuyên bố Trung Quốc là đồng minh của họ, làm Chủ tịch.
Người phát ngôn Đại sứ quán Việt Nam, Tham tán chính trị Trần Văn Thông khẳng định: Yêu sách của người biểu tình là không có căn cứ và ngay cả cuộc biểu tình cũng là phi pháp vì không được chính quyền cấp phép. Do đó, Đại sứ quán Việt Nam không cần phải xem xét yêu sách của họ, đồng thời khẳng định sự thật không thể tranh cãi: “Nam bộ là lãnh thổ của nước Việt Nam phù hợp với luật pháp quốc tế, được LHQ, các tổ chức quốc tế, tất cả các nước trên thế giới, kể cả các thành viên của ASEAN công nhận”.
Cơ sở pháp lý về chủ quyền của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ thể hiện ngay trong quá trình thụ đắc lãnh thổ bắt đầu từ thế kỷ XVII. Từ giữa thế kỷ XIX, chủ quyền này được chính thức ghi nhận trong văn bản các Hiệp ước quốc tế.
Tháng 12 năm 1845 ba nước An Nam (Việt Nam), Xiêm (Thái Lan) và Miên (Cămpuchia) đã ký một Hiệp ước, trong đó thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc Việt Nam.
Năm sau, trriều Nguyễn và Xiêm lại ký một Hiệp ước có nhắc lại điều đó. Đây là Hiệp ước mà sau này Cao Miên cũng tham gia. Như vậy muộn nhất là đến năm 1845 các nước láng giềng với Việt Nam, trong đó có cả Cămphuchia đã ký các văn bản pháp lý chính thức công nhận vùng đất Nam Bộ là của Việt Nam.
Pháp tấn công Nam Bộ rồi sau đó lần lượt chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ là các sự kiện thể hiện rõ sự xâm hại đến chủ quyền lãnh thổ trên vùng đất Nam Bộ, nhưng Cămpuchia không có bất cứ một phản ứng gì. Trái lại, triều Nguyễn đã điều động quân đội tiến hành kháng Pháp và khi kháng chiến thất bại, đã đứng ra ký các Hiệp định nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông (năm 1862) và 3 tỉnh miền Tây (năm 1874). Đây là những chứng cớ và cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất này.
Sau khi lập ra Liên bang Đông Dương, trên cơ sở nghiên cứu lịch sử thực thi chủ quyền trên vùng đất Nam Bộ, Pháp đã tiến hành hoạch định biên giới giữa Nam Kỳ và Cămpuchia theo luật của nước Pháp. Việc khảo sát, đo đạc trên thực địa được tiến hành bởi các chuyên gia Pháp và Cămpuchia. Năm 1889 giữa Pháp và Cămpuchia đã ký một loạt các văn bản pháp lý về hoạch định, phân giới cắm mốc biên giới giữa Nam Kỳ và Cămpuchia. Tất cả các văn bản pháp lý này đều khẳng định vùng đất Nam Kỳ hoàn toàn thuộc về Việt Nam.
Trước những thắng lợi liên tiếp của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ngày 4 tháng 6 năm1949 tổng thống Vincent Aurol ký Bộ luật số 49 - 733 trả lại Nam Kỳ cho chính quyền Bảo Đại. Trong Bộ luật còn có chữ ký của Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp.
Giải thích những thắc mắc của vương quốc Cămpuchia về quyết định này, ngày 8 tháng 6 năm 1949 Chính phủ Pháp đã có thư chính thức gửi quốc vương Sihanouk, trong đó có đoạn nói rõ: “Về pháp lý và lịch sử không cho phép Chính phủ Pháp trù tính các cuộc đàm phán song phương với Cămpuchia để sửa lại các đường biên giới của Nam Kỳ” vì “Nam Kỳ đã được An Nam nhượng cho Pháp theo các Hiệp ước năm1862 và 1874…. chính từ triều đình Huế mà Pháp nhận được toàn bộ miền Nam Việt Nam… về pháp lý, Pháp có đủ cơ sở để thoả thuận với Hoàng đế Bảo Đại việc sửa đổi quy chế chính trị của Nam Kỳ”. Trong bức thư đó Chính phủ Pháp còn khẳng định: “thực tế lịch sử ngược lại với luận thuyết cho rằng miền Tây Nam Kỳ vẫn còn phụ thuộc triều đình Khmer lúc Pháp tới ” và “Hà Tiên đã được đặt dưới quyền tôn chủ của Hoàng đế An Nam từ năm 1715 và kênh nối Hà Tiên với Châu Đốc được đào theo lệnh của các quan An Nam từ nửa thế kỷ trước khi chúng tôi đến”.
Vậy là đến năm 1949, vùng đất Nam Bộ vốn từng bị triều Nguyễn “bán” cho Pháp, đã được trả lại bằng một văn bản có giá trị pháp lý. Chính phủ Pháp còn khẳng định những cơ sở lịch sử và luật pháp của văn bản này với vương quốc Cămpuchia.
Từ đó về sau chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ liên tục được tất cả các Hiệp định định có giá trị pháp lý quốc tế như Hiệp định Genève (1954), Hiệp định Paris (1973) công nhận.
Như vậy, chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ không chỉ được khẳng định bởi tính tính chính đáng trong quá trình thụ đắc lãnh thổ cũng như công lao của Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vùng lãnh thổ đó suốt từ thế kỷ XVII đến nay mà còn phù hợp với nguyên tắc uti possidetis (tôn trọng nguyên trạng), phù hợp thông lệ và các công ước quốc tế hiện hành.

Chính phủ Campuchia cần có thái độ rõ ràng và biện pháp hiệu quả để bảo đảm an ninh ở khu vực đại sứ quán thuộc chủ quyền của Việt Nam. 

5 nhận xét:

  1. Việt Nam luôn tôn trọng chủ quyền quốc gia và luật pháp quốc tế

    Trả lờiXóa
  2. Không lẽ lại là một bài cố đấm ăn xôi của cái ông cầm đầu CNRP để lấy được sự ủng hộ của mấy ảnh chẳng biết pháp luật là gì nhưng cứ muốn làm nước lớn

    Trả lờiXóa
  3. Mấy chú Campuchia bị chú Khách kích động gây rối chứ chúng biết thừa chủ quyền của Việt Nam không thể tranh cãi được.

    Trả lờiXóa
  4. Bọn Tàu khựa mất dạy quá. Chúng đứng sau đẩy lưng để Campuchia đi đòi cái không thuộc về họ. Mục đích của tàu là gây rối Việt Nam.

    Trả lờiXóa
  5. Những vấn đề Campuchia đưa ra đòi chủ quyền đều không hợp lý. Tất cả đều đã được Việt Nam khẳng định và quốc tế công nhận. Đòi cái gì đây? Vớ vẩn!

    Trả lờiXóa